CÁI GIÁ CỦA HÒA BÌNH

0
1592

43 năm đã qua (17/2/1979 – 17/2/2022), cuộc chiến đấu trên toàn tuyến biên giới phía Bắc đã khẳng định sự thật lịch sử và tính chính nghĩa của của dân tộc Việt Nam; tuyên truyền, giáo dục truyền thống yêu nước, lòng biết ơn sâu sắc của nhân dân, nhất là của tuổi trẻ đối với các thế hệ cha anh đã không tiếc tuổi xuân, xương máu và tính mạng để bảo vệ nền độc lập, tự do, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Sáng 5/3/1979, chương trình phát thanh 90 phút thường ngày của Đài tiếng nói Việt Nam phát bản tin đặc biệt kêu gọi: “Hỡi đồng bào và chiến sĩ yêu quý! Quân thù đang giày xéo non sông, đất nước ta. Độc lập, tự do, chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta đang bị xâm phạm. Hòa bình và ổn định ở Đông Nam châu Á đang bị đe dọa. Dân tộc Việt Nam ta phải ra sức chiến đấu để tự vệ… Toàn thể đồng bào các dân tộc anh em trong cả nước, các tôn giáo, các đảng phái, già, trẻ, gái, trai hãy phát huy truyền thống Diên Hồng, triệu người như một, nhất tề đứng lên bảo vệ tổ quốc”.

Ngay sau lời kêu gọi, Ủy ban Thường vụ Quốc hội họp phiên bất thường dưới sự chủ trì của Chủ tịch Trường Chinh. Theo đề nghị của Hội đồng Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra quyết định tổng động viên trong cả nước. Mọi công dân trong lứa tuổi do luật định đều phải gia nhập lực lượng vũ trang theo kế hoạch của Hội đồng Chính phủ; huy động mọi nhân lực, vật lực, tài lực cần thiết để đảm bảo nhu cầu của cuộc kháng chiến cứu nước.

Cùng ngày, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký sắc lệnh 29 – LCT ra lệnh tổng động viên trong cả nước. Hội đồng Chính phủ ban hành nghị định về việc thực hiện quân sự hóa toàn dân, vũ trang toàn dân. Trong đó, yêu cầu nam từ 18 đến 45 tuổi, nữ từ 18 đến 35 tuổi có đủ điều kiện, đều gia nhập hàng ngũ du kích và tự vệ. Ngoài ra, ai tự nguyện đều được đưa vào tổ chức vũ trang quần chúng. Khi xảy ra chiến sự ở địa phương, trừ những người được phép sơ tán đi nơi khác, còn tất cả mọi người phải ở lại làm nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

Lệnh tổng động viên được đăng trên báo Nhân dân ngày 6/3/1979. Ảnh: Hoàng Phương.

Vào thời điểm lịch sử ấy, có rất nhiều thanh niên yêu nước đã xung phong ra mặt trận. Họ cống hiến thanh xuân cho bình yên đất nước với một tinh thần vô tư, tràn đầy nhiệt huyết, dẫu họ nhận thức được rằng, sự chọn lựa ấy phải đánh đổi chẳng những bằng hạnh phúc cá nhân, mà còn là tính mạng, là những vết thương trên thân thể và những nỗi bất an, đau đớn của người thân.

Rời chiến trận, có người trở về với giảng đường đại học, có người tiếp tục lao động, vẫn tiếp tục binh nghiệp và cống hiến cho đất nước theo một cách khác, rất đời thường. Những người lính ít khi kể về công lao và cũng không đòi hỏi một sự trả ơn nào. Tháng ngày chiến đấu tuổi thanh xuân mang đến cho họ những ký ức không thể phai mờ, những người đồng đội và những giá trị tinh thần khó đong đếm được.

Thế nhưng tôi biết, trong những ngày tháng Hai này, khi mọi người dân trên cả nước đều hưởng ứng tri ân, hướng về ngày kỷ niệm 43 năm cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, đó là cả một niềm an ủi, một sự động viên lớn lao với họ, những cựu chiến binh, những gia đình liệt sĩ có con em đã ngã xuống nơi xa xôi miền biên viễn.

Tôi đã rơi nước mắt khi đọc những lời chia sẻ của một bác Cựu Chiến binh, người dành nhiều năm để kiếm tìm, chăm sóc các mộ phần đồng đội, trong một bài viết:

“Quên sao được khi bỗng chốc mất đi 45 anh em, những người đã thân quen tựa máu thịt… Tôi sống sót trong trận chiến khốc liệt ấy chính là bởi anh em đồng đội đã nhường cho tôi phần may mắn. Và suốt nhiều năm qua, những người lính hy sinh thân mình bảo vệ mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc ấy đã ủy thác, đã cho tôi sức khỏe, tình yêu thương… để tôi có cơ hội chu toàn từng phần việc tri ân”.

Việc nhắc lại quá khứ, nhớ về những vết đau thương mà chiến tranh để lại hoàn toàn không phải nhằm kích động hận thù, mà để biết trân trọng hơn giá trị của hoà bình, để bất cứ ai hôm nay cũng phải tỉnh thức, giữ gìn thành quả mà cha ông vốn phải trải qua biết bao cuộc chiến, đổ máu xương mới giành được.

Đâu có bà mẹ nào trên đất nước này muốn lại có ngày được phong chữ “anh hùng”, đâu có gia đình nào muốn là người thân liệt sĩ… Nhưng lịch sử đã không cho phép chúng ta được lựa chọn, nhiều thế hệ cha ông đã phải cầm súng để giữ lấy bình yên cho mảnh đất này.

Do đó, gác lại quá khứ nhưng chúng ta cũng luôn sòng phẳng với lịch sử, tôn trọng lịch sử, để sống bao dung hơn, hướng đến tương lai hoà hợp, bình đẳng, vì lợi ích quốc gia trên hết.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây