VỤ VIỆC 2 BỌC HÀNG BỊ TỊCH THU – AI ĐÒI AI?

Vừa qua, ngày 24/4/207, 02 người em của đối tượng Hoàng Đức Bình (đối tượng phản động của phong trào “Lao động Việt”) là Hoàng Đức Nguyên và Hoàng Đức Hảo có vận chuyển 02 túi quần áo trên 01 chiếc xe máy mang BKS 37K1.550.25. Sau khi bị lực lượng chức năng kiểm tra, hai đối tượng vứt lại số hàng và chiếc xe máy, bỏ chạy về giáo xứ Song Ngọc. Dưới sự chứng kiến của người dân, lực lượng chức năng đã kiểm tra số hàng và phát hiện 230 chiếc áo có in chữ “No Formosa” và “Formosa cút khỏi Việt Nam”
Chiều cùng ngày, Nguyễn Đình Thục rung chuông kêu gọi giáo dân Song Ngọc kéo lên trụ sở UBND huyện và Trụ sở Công an huyện Quỳnh Lưu để “đòi áo”, chất vấn Công an huyện Quỳnh Lưu về sự việc trên.

Nhân sự việc, Thường dân xin phép chia sẻ với bạn đọc một số vấn đề theo quy định của pháp luật để giải đáp thắc mắc cho bà con giáo dân, cũng để chúng ta hiểu thêm về bản chất sự việc: rằng ai đang vi phạm pháp luật? Số áo được tịch thu là đúng hay sai? số đối tượng kia có được đòi lại áo không?

I. VỀ SỐ HÀNG HÓA KHÔNG RÕ NGUỒN GỐC XUẤT XỨ ĐƯỢC LỰC LƯỢNG CHỨC NĂNG TỊCH THU

Theo quy định của Luật thương mại, việc vận chuyển hàng hóa lưu thông trên thị trường bắt buộc phải có chứng từ hợp pháp. Cụ thể, tại điều 34, Luật Thương mại 2005 quy định rõ:

Điều 34. Giao hàng và chứng từ liên quan đến hàng hóa

  1. Bên bán phải giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng về số lượng, chất lượng, cách thức đóng gói, bảo quản và các quy định khác trong hợp đồng.
  2. Trường hợp không có thỏa thuận cụ thể, bên bán có nghĩa vụ giao hàng và chứng từ liên quan theo quy định của Luật này.

Theo đó, việc lưu thông hàng hóa trên thị trường bắt buộc phải đầy đủ về chứng từ liên quan đến hàng hóa. Cho đến nay, các đối tượng mặc dù một mực đòi lại số hàng hóa của mình nhưng không xuất trình được hóa đơn, chứng từ mua bán. Như vậy, số lượng hàng hóa trên được xác định là hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ.

Hành vi vận chuyển hàng hóa không rõ nguồn gốc xuất xứ đã vi phạm quy định của pháp luật về kinh doanh hàng hóa, được quy định cụ thể tại Điều 21, Nghị định 185/NĐ-CP  ngày 16/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Nguyên văn:

Điều 21. Hành vi vi phạm về kinh doanh hàng hóa quá hạn sử dụng, không rõ nguồn gốc, xuất xứ và có vi phạm khác

  1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây trong trường hợp hàng hóa vi phạm có giá trị dưới 1.000.000 đồng:

a) Kinh doanh hàng hóa quá hạn sử dụng ghi trên nhãn hàng hóa hoặc bao bì hàng hóa, trừ thuốc bảo vệ thực vật;

b) Đánh tráo, thay đổi nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa hoặc tẩy xóa, sửa chữa thời hạn sử dụng trên nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa nhằm kéo dài thời hạn sử dụng của hàng hóa;

c) Kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ;

d) Kinh doanh hàng hóa có nhãn, bao bì hàng hóa có hình ảnh, hình vẽ, chữ viết, dấu hiệu, biểu tượng hoặc thông tin khác sai sự thật, gây nhầm lẫn về chủ quyền quốc gia, truyền thống lịch sử hoặc phương hại đến bản sắc văn hóa, đạo đức lối sống, đoàn kết dân tộc và trật tự an toàn xã hội.

2. Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp hàng hóa vi phạm có giá trị từ 1.000.000 đồng đến dưới 2.000.000 đồng.

3. Phạt tiền từ 600.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp hàng hóa vi phạm có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 3.000.000 đồng.

4. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp hàng hóa vi phạm có giá trị từ 3.000.000 đồng đến dưới 5.000.000 đồng.

5. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp hàng hóa vi phạm có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng

6. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp hàng hóa vi phạm có giá trị từ 10.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng.

7. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp hàng hóa vi phạm có giá trị từ 20.000.000 đồng đến dưới 30.000.000 đồng.

8. Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp hàng hóa vi phạm có giá trị từ 30.000.000 đồng đến dưới 40.000.000 đồng.

9. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp hàng hóa vi phạm có giá trị từ 40.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng.

10. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp hàng hóa vi phạm có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 70.000.000 đồng.

11. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp hàng hóa vi phạm có giá trị từ 70.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;

12. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp hàng hóa vi phạm có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên.

13. Phạt tiền gấp hai lần mức tiền phạt quy định từ khoản 1 đến khoản 12 Điều này đối với người sản xuất, nhập khẩu thực hiện hành vi vi phạm hành chính hoặc hàng hóa vi phạm thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Là lương thực, thực phẩm; phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, chất bảo quản thực phẩm, thuốc phòng bệnh và thuốc chữa bệnh cho người, thực phẩm chức năng, mỹ phẩm

b) Là chất tẩy rửa, diệt côn trùng, thuốc thú y, phân bón, xi măng, thức ăn chăn nuôi, thuốc bảo vệ thực vật, chất kích thích tăng trưởng, giống cây trồng, giống vật nuôi;

c) Thuộc danh mục hàng hóa hạn chế kinh doanh hoặc kinh doanh có điều kiện.

14. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Tịch thu tang vật đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này;

b) Tịch thu phương tiện là công cụ, máy móc hoặc vật khác được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này;

15. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc tiêu hủy hàng hóa vi phạm đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này;

b) Buộc thu hồi tiêu hủy hàng hóa vi phạm đang lưu thông trên thị trường đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này;
c) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điều này.

 

NHƯ VẬY:

1.Cụ thể số áo được tịch thu thuộc 02 loại hàng hóa kinh doanh vi phạm quy định tại điểm c và điểm d, Khoản 1, Điều 21 về việc:

c) Kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ;

d) Kinh doanh hàng hóa có nhãn, bao bì hàng hóa có hình ảnh, hình vẽ, chữ viết, dấu hiệu, biểu tượng hoặc thông tin khác sai sự thật, gây nhầm lẫn về chủ quyền quốc gia, truyền thống lịch sử hoặc phương hại đến bản sắc văn hóa, đạo đức lối sống, đoàn kết dân tộc và trật tự an toàn xã hội.

 

  1.  Về chế tài xử phạt, được quy định cụ thể tại Điều 21, Nghị định 185, mức phạt từ 400.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

3. Cũng theo quy định tại khoản 14 điều này về hình thức xử phạt bổ sung về những hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, điều 21. Theo đó, lực lượng chức năng có thẩm quyền:

“a) Tịch thu tang vật đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này;

b) Tịch thu phương tiện là công cụ, máy móc hoặc vật khác được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này”

Đồng thời, theo khoản 15 điều này quy định biện pháp khắc phục hậu quả, lực lượng chức năng có quyền:

“a) Buộc tiêu hủy hàng hóa vi phạm đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này;

b) Buộc thu hồi tiêu hủy hàng hóa vi phạm đang lưu thông trên thị trường đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này;

c) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điều này.”

 

==>>  Như vậy, xét theo quy định trên, việc tịch thu số áo trên hoàn toàn đúng quy định pháp luật.

==>>Lực lượng chức năng không có trách nhiệm phải trả lại số áo đã tịch thu.

==>>Đồng thời, có đủ căn cứ pháp luật để áp dụng các chế tài xử phạt đối với hành vi vận chuyển, kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc xuất xứ của 02 đối tượng.


II. SỐ ÁO ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐỂ THAM GIA HOẠT ĐỘNG BIỂU TÌNH BẤT HỢP PHÁP BẮT BUỘC LỰC LƯỢNG CHỨC NĂNG PHẢI TỊCH THU

Bên cạnh đó, hình ảnh được in đồng loạt trên số áo với dòng chữ “No Formosa”, “FORMOSA cút khỏi Việt Nam” kèm theo biểu tượng của Tổ chức Việt Tân hoàn toàn trùng khớp với hình ảnh chiếc áo mà tổ chức phản động Việt Tân kêu gọi, phát động chuẩn bị cho cuộc biểu tình ngày 30/4 sắp tới. Việc 02 đối tượng thừa nhận số áo này của mình, đồng nghĩa với việc thừa nhận ủng hộ và hưởng ứng phát động biểu tình của một tổ chức phản động.

Xin được nhấn mạnh: Tổ chức Việt Tân đã được Bộ Công an liệt vào danh sách tổ chức khủng bố. Vì vậy, việc tham gia hoặc có các hành vi ủng hộ hoạt động của tổ chức này đều là vi phạm pháp luật, trong đó có hành vi biểu tình.

Việc tham gia hoạt động biểu tình trái pháp luật được quy định cụ thể tại Nghị định 38/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 của Chính phủ. Trong đó, tại điều 5 quy định rõ:

Điều 5. Các hành vi bị nghiêm cấm

  1. Lợi dụng các quyền tự do dân chủ của công dân để thực hiện hoặc lôi kéo, kích động, mua chuộc, cưỡng ép người khác tập trung đông người nhằm gây rối trật tự công cộng hoặc để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác.
  2. Tập trung đông người trái với quy định của pháp luật ở lòng đường, vỉa hè, trước trụ sở cơ quan, tổ chức, tại khu vực đang diễn ra các hội nghị quốc tế, kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân hoặc các hoạt động chính trị quan trọng khác của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội hoặc nơi công cộng khác.
  3. Tiến hành các hoạt động quy định tại Điều 7 Nghị định này mà không được phép của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền.
  4. Gây cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, của cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội hoặc cản trở, chống người thi hành công vụ.
  5. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để dung túng, bao che hoặc xử lý không nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về bảo đảm trật tự công cộng.
  6. Các hành vi khác gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự công cộng, cuộc sống bình thường của nhân dân hoặc trái với thuần phong mỹ tục, nếp sống văn minh nơi công cộng.

Đồng thời, tại điều 7 cũng quy định rõ:

“Điều 7. Quy định về tập trung đông người ở nơi công cộng

Việc tập trung đông người ở nơi công cộng phải đăng ký trước với Uỷ ban nhân dân có thẩm quyền nơi diễn ra các hoạt động đó và phải thực hiện đúng nội dung đã đăng ký. Quy định này không áp dụng đối với các hoạt động do các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội tổ chức.”

==>>Theo đó, hành vi tập trung đông người biểu tình ở nơi công cộng không có đăng ký trước với UBND có thẩm quyền được xem là hành vi biểu tình trái pháp luật.

Đồng thời, về quy định xử lý vi phạm cũng được quy định rõ tại Khoản 1, điều 11, Nghị định 38:

“Đối với những trường hợp tập trung đông người trái pháp luật, gây rối trật tự công cộng hoặc thực hiện các hành vi bị nghiêm cấm quy định tại Điều 5 Nghị định này thì các cơ quan chức năng có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của Nghị định này và các quy định khác của pháp luật có liên quan để ngăn chặn và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm.”

Theo đó, lực lượng công an có thẩm quyền áp dụng các biện pháp và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về bảo đảm trật tự công cộng theo quy định tại khoản 2, điều 12, nghị định 38. Cụ thể, có thẩm quyền: “Tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện các biện pháp theo quy định của pháp luật để bảo đảm trật tự công cộng; Tổ chức chỉ đạo việc điều tra, xử lý các hành vi xâm phạm trật tự công cộng theo quy định của pháp luật.”

==>> Vì vậy, tang vật mà lực lượng chức năng nghi ngờ là phương tiện, công cụ, tài liệu có liên quan đến các hoạt động, hành vi gây rối trật tự công cộng, đang trong quá trình điều tra, xử lý thì lực lượng công an hoàn toàn có quyền tịch thu.

==>> Việc kéo lên trụ sở Công an huyện và đòi trao trả số tang vật lực lượng công an thu giữ trong quá trình điều tra là hoàn toàn sai quy định của pháp luật.

==>> Hành vi kích động, lôi kéo quần chúng kéo lên gây rối ANTT tại trụ sở làm việc của cơ quan chức năng cũng hoàn toàn sai quy định của pháp luật, cần phải xử lý theo đúng quy định để răn đe trước pháp luật

*Ann*