TÌM HIỂU QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRƯỜNG HỢP BẮT KHẨN CẤP

Bắt người là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự được áp dụng đối với bị can, bị cáo, người đang bị truy nã và trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang thì áp dụng cả đối với người chưa bị khởi tố về hình sự nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội của họ, ngăn ngừa họ trốn tránh pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.

Bắt người trong trường hợp khẩn cấp là bắt người khi người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội của họ hay bắt người sau khi thực hiện tội phạm mà người đó bỏ trốn, cản trở việc điều tra, khám phá tội phạm.

Đối tượng và điều kiện áp dụng:

Bắt người trong trường hợp khẩn cấp được áp dụng với những người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng và người đã thực hiện tội phạm có hành vi bỏ trốn, cản trở việc điều tra, khám phá tội phạm. Để đảm bảo cho việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp đúng pháp luật, đồng thời hạn chế tới mức tối đa sự vi phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, khoản 1 Điều 81 BLTTHS quy định một cách cụ thể, rõ ràng các trường hợp khẩn cấp sau đây:

Trường hợp khẩn cấp thứ nhất: khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Đây là trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã có quá trình theo dõi hoặc kiểm tra, xác minh các nguồn tin qua đó có căn cứ để khẳng định: Một người (hoặc nhiều người) đang chuẩn bị thực hiện tội phạm. Việc chuẩn bị thực hiện tội phạm có thể thông qua các hành vi: tìm kiếm công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm như bàn mưu, tính kế, lập kế hoạch, lôi kéo người khác cũng thực hiện tội phạm. Những hành vi này chưa trực tiếp xâm hại đến lợi ích của Nhà nước và công dân nhưng đã đặt các lợi ích đấy vào tình trạng bị đe dọa, cần thiết phải bảo vệ kịp thời. Tội phạm đang được chuẩn bị thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Theo luật hình sự Việt Nam, không phải mọi hành vi chuẩn bị thực hiện tội phạm nào cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà Điều 17 Bộ luật hình sự 1999 quy định chỉ người nào chuẩn bị thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Do đó muốn bắt khẩn cấp một người (hoặc nhiều người) đang chuẩn bị thực hiện tội phạm thì phải xác định rội phạm họ đang chuẩn bị thực hiện phải là tội phạm rất nghiêm trọng (tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 15 năm tù) hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình).

Trường hợp khẩn cấp thứ hai: khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn.

Đây là trường hợp tội phạm đã xảy ra, nhưng người thực hiện tội phạm không bị bắt ngay. Sau một thời gian, người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy đã xác nhận đúng là người thực hiện tội phạm. Nếu Cơ quan điều tra xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn thì ra lệnh bắt khẩn cấp. Việc bắt người trong trường hợp này cần phải đảm bảo hai điều kiện sau: phải có người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và trực tiếp xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm. Người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm có thể là người bị hại hoặc người khác đã chính mắt trông thấy người phạm tội và hành vi phạm tội được thực hiện.
Việc xác định phải mang tính chất khẳng định để tránh việc bắt nhầm người không thực hiện tội phạm. Xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn. Những căn cứ cho rằng người phạm tội bỏ trốn thường là: đang có hành động bỏ trốn; đang chuẩn bị trốn; không có nơi cư trú rõ ràng; có nơi cư trú nhưng quá xa; là đối tượng lưu manh, côn đồ, hung hãn; chưa xác định được nhân thân của người đó (căn cước lý lịch không rõ ràng). Với những trường hợp không cần ngăn chặn việc người phạm tội bỏ trốn thì vẫn tiến hành việc giải quyết vụ án mà không cần bắt khẩn cấp.

Trường hợp khẩn cấp thứ ba: khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.

Đây là trường hợp cơ quan có thẩm quyền chưa có đủ tài liệu, chứng cứ để xác định người đó thực hiện tội phạm, nhưng qua việc phát hiện thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn việc người này bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ thì bắt khẩn cấp. Việc bắt người trong trường hợp này cần bảo đảm điều kiện: thấy dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm thông qua những hoạt động như khám chỗ ở, khám người, xem xét dấu vết trên thân thể, kiểm tra, kiểm soát hành chính… Dấu vết của tội phạm được tìm thấy có thể là những vật chứng như công cụ phương tiện phạm tội, đối tượng của tội phạm… hoặc dấu vết của tội phạm trên thân thể của người bị nghi thực hiện tội phạm. Cần ngăn chặn người bị nghi thực hiện tội phạm trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.

Những căn cứ cho rằng người bị nghi thực hiện tội phạm bỏ trốn tương tự như ở trường hợp khẩn cấp thứ hai. Căn cứ cho rằng người bị nghi thực hiện tội phạm đang tiêu hủy chứng cứ: xóa dấu vết tội phạm, đang cất dấu công cụ, phương tiện phạm tội, đang tẩu tán tài sản vừa lấy được hoặc đang có hành vi làm giả chứng cứ, làm sai lệch các tài liệu có liên quan đến hành vi phạm tội nhằm gây khó khăn cho việc điều tra.

Thẩm quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp: Khoản 2 Điều 81 BLTTHS

Những người sau đây có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương, người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng. Thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp: Xuất phát từ tính chất cấp bách của việc ngăn chặn hành vi phạm tội và hành vi trốn tránh pháp luật của người phạm tội.

Do đó thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp có khác với thủ tục bắt bị can, bị cáo để tạm giam ở những điểm sau:

Một là, lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp không cần sự phê chuẩn của Viện kiểm sát cùng cấp trước khi thi hành.

Hai là, sau khi đã bắt người, việc bắt khẩn cấp phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp bằng văn bản cùng các tài liệu liên quan để xem xét và phê chuẩn. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn và tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Nếu Viện kiểm sát quyết định không phê chuẩn thì người đã ra lệnh bắt phải trả tự do ngay cho người bị bắt.

Như vậy, việc Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Nghệ An bắt khẩn cấp Lê Đình Lượng về hành vi “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” được quy định tại Điều 79 Bộ Luật hình sự nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là đúng quy định của pháp luật.

Mà tôi tin chắc rằng việc bắt Lê Đình Lượng về hành vi này thì “Câu lạc bộ Juve Trại Tạm giam” đăng chuẩn bị ký bản hợp đồng vào những ngày cuối hè rồi. Xin gửi đến Đặng Hữu Nam, Nguyễn Đình Thục một thông điệp “các học trò cưng đang đầu quân cho Câu lạc bộ theo dạng chuyển nhượng tự do hơi bị nhiều đấy”. Cứ tiếp tục chống phá đi, chưa biết chừng hết học trò xong là đến thầy.

HOÀNG SƠN