Nhìn nhận thế nào về việc khởi tố, điều tra hai tội danh với vụ giữ người tại xã Đồng Tâm (huyện Mỹ Đức) của Công an TP Hà Nội

Công an Hà Nội khởi tố vụ bắt giữ 38 người trái pháp luật tại xã Đồng Tâm, Mỹ Đức, Hà Nội

Vụ việc xảy ra tại xã Đồng Tâm, Mỹ Đức, Hà Nội cách đây 2 tháng đến nay vẫn là chủ đề nóng được dư luận nhân dân quan tâm. Sự việc tại Đồng Tâm xảy ra ngày 15/4 khi 4 người bị bắt để phục vụ điều tra vụ án Gây rối trật tự công cộng liên quan đến giải tỏa đất ở đồng Sênh (Đồng Tâm, Mỹ Đức). Lực lượng thi hành công vụ gặp phải sự phản ứng dẫn đến 38 cảnh sát cơ động, cán bộ bị giữ tại nhà văn hóa thôn.

7 ngày sau, Chủ tịch TP Hà Nội, ông Nguyễn Đức Chung có buổi đối thoại với bà con nhân dân xã Đồng Tâm, sau buổi đối thoại, toàn bộ người bị giữ được thả. Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung cam kết làm rõ nguồn gốc đất tại đồng Sênh, đồng thời điều tra đúng sai việc bắt 4 người nêu trên. Toàn văn bản cam kết như sau:

1- Trực tiếp kiểm tra đoàn thanh tra, chỉ đao sát sao, làm đúng sự thực khách quan và đúng pháp luật khu vực đất đồng Xênh rõ ràng đâu là đất quốc phòng, đâu là đất nông nghiệp, không mập mờ, đảm bảo đúng quyền lợi cho nhân dân Đồng Tâm theo quy định của pháp luật.

2- Không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với toàn thể nhân dân xã Đồng Tâm.

3- Cam kết chỉ đạo, điều tra, xác minh việc bắt và gây thương tích cho cụ Lê Đình Kình, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung đã ký”

ảnh bản cam kết

Bản cam kết có chữ ký của Phó Trưởng ban Dân nguyện Quốc hội Đỗ Văn Đương và Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc và luật sư.

Như vậy, ngoài việc cam kết phân rõ đúng sai liên quan đến nguồn gốc đất đồng Sênh và điều tra rõ việc bắt giữ 04 người để điều tra vụ án gây rối trật tự công cộng thì bản cam kết của ông Chung thể hiện nội dung khiến dư luận, báo giới lại tốn giấy bút: “Không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với toàn thể nhân dân xã Đồng Tâm’.

Vậy chúng ta cần hiểu nội dung này thế nào? Về phần mình, chúng tôi vẫn giữ quan điểm cho rằng, việc ông Chung cam kết như vậy là rõ ràng và phù hợp với quy định của pháp luật:

Thứ nhất, ông Chung cam kết không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với toàn thể dân Đồng Tâm là chính xác. Bởi không phải toàn thể nhân dân đồng tâm đều có hành vi trái pháp luật, tất nhiên dẫn đến không thể truy cứu trách nhiệm hình sự với toàn thể dân đồng tâm rồi. Điểm này thể hiện ông chung có trách nhiệm, nếu nhìn rộng ra thì có thế nói lời cam kết này gián tiếp nói lển rằng ông ấy sẵn sàng bảo vệ người dân nếu bị cơ quan pháp luật truy tố khi không phạm tội.

Thứ hai, việc truy tố hình sự hay không truy tố hình sự không phải là thẩm quyền của ông Chung, mà thẩm quyền này nằm ở cơ quan hành pháp, trực tiếp là Công an TP. Hà Nội, Viện Kiểm Sát, Tòa An.

Thứ ba, cũng cần khặng định rằng, việc bắt giữ 38 cán bộ thực thi nhiệm vụ của nhân dân Đồng Tâm là hành vi trái pháp luật. Điều này không thể chối cãi. Và dù là dân Đồng Tâm hay bất cứ người dân ở bất cứ đầu khắp mọi miền cũng bình đẳng trước pháp luật.

Xuất phát từ những luận điểm trên, có thể thấy việc Cơ quan cảnh sát điều tra (Công an Hà Nội) đã khởi tố vụ án hình sự liên quan việc bắt giữ 38 người thi hành công vụ tại thôn Hoành (xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức) để điều tra về tội Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (theo điều 123 Bộ luật Hình sự) và Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (theo điều 143 Bộ luật Hình sự) vào chiểu 13/6 là hoàn toàn đúng đắn, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp luật của mọi công dân.

hình ảnh ghi lại tại Đồng Tâm

H. Văn

TÓM TẮT ĐIỀU 123, 143 BLHS VIỆT NAM:
Điều 123. Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

1. Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 1 đến 5 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với người thi hành công vụ;

d) Phạm tội nhiều lần;

đ) Đối với nhiều người.

3. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 143. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác gây thiệt hại từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng chất nổ, chất cháy hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng;

d) Để che giấu tội phạm khác;

đ) Vì lý do công vụ của người bị hại;

e) Tái phạm nguy hiểm;

g) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm

triệu đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.